Bài 2: Hiệu quả cùng những bất cập trong chính sách và thực hiện chính sách dân tộc

ĐBP - Mường Nhé là huyện có đường biên giới chung với hai nước láng giềng Trung Quốc và Lào. Là huyện miền núi, vùng cao, dân tộc thiểu số nghèo đặc biệt khó khăn nên huyện nhận được sự quan tâm đầu tư đặc biệt của Trung ương, của tỉnh.

    Mở đường giao thông liên xã ở Mường Nhé. Ảnh: T.D

Các chính sách dành cho vùng dân tộc, miền núi huyện đều được thụ hưởng. Hàng nghìn tỷ đồng đã được đầu tư cho Mường Nhé thông qua các chương trình, dự án như: Chương trình phát triển kinh tế-xã hội các xã đặc biệt khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa và biên giới (Chương trình 135); Quyết định 120, 160 của Chính phủ về phát triển kinh tế xã hội tuyến biên giới Việt-Trung, Việt-Lào; Chương trình xoá đói giảm nghèo nhanh, bền vững dành cho 62 huyện nghèo nhất nước theo Nghị quyết 30a của Chính phủ; Chương trình trợ giá, trợ cước; Chính sách cho vay vốn đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số để phát triển sản xuất; Chính sách hỗ trợ trực tiếp người dân thuộc hộ nghèo ở vùng khó khăn theo Quyết định 126, 102 của Thủ tướng Chính phủ; Chương trình phát triển kinh tế-xã hội vùng Tây Bắc theo Nghị quyết 37 của Bộ Chính trị, Chương trình di dân thực hiện định canh, định cư theo Quyết định 33… Những chính sách, chương trình, dự án trên đã góp phần đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện bình quân 9,75%/năm. Sản lượng lương thực đạt 352kg/người/năm, cơ bản đủ cung cấp lương thực trong huyện. Tỷ lệ hộ nghèo giảm 5%/năm. 60% số xã có đường cho xe cơ giới lưu thông 4 mùa, trên 70% số hộ được cung cấp nước sinh hoạt. 100% số xã có trường học, điểm trường, tỷ lệ học sinh đến trường đạt 98%; 91% hộ nghèo được hỗ trợ làm nhà ở…

Kết quả ấy đã tạo ra những thay đổi hết sức cơ bản. Tuyến đường “động lực cho phát triển” từ Si Sa Phìn đến A Pa Chải đã được “nhựa hoá” là điểm nhấn ấn tượng dù đôi khi vẫn còn những điểm sạt lở phải chờ xe ủi, máy xúc san gạt để thông đường.

Song vì Mường Nhé là huyện nghèo nhất cả nước, xa Trung ương, xa tỉnh; thời gian thành lập chưa được 10 năm, tổ chức bộ máy hành chính, nhất là ở cấp cơ sở đang trong thời kỳ ổn định. Là huyện biên giới, vùng sâu, vùng xa, địa hình rừng núi hiểm trở, đi lại khó khăn, có rừng đầu nguồn. Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé đang là tâm điểm của di dân tự do nên với Mường Nhé, khó khăn là cơ bản, bao trùm. Cơ sở hạ tầng bất cập; Hệ thống đường liên thôn, trong bản chưa được đầu tư xây dựng. Nhiều bản của người dân di cư tự do chưa được công nhận, những điểm trường sơ sài, lẻ loi, những mái nhà đơn sơ, những bữa ăn đạm bạc của người dân... Nguyên nhân của những khó khăn ở Mường Nhé có nhiều, trong đó có nguyên nhân từ những bất cập trong chính sách và tổ chức thực hiện chính sách.

Phó ban Dân tộc tỉnh Điện Biên Nguyễn Thị Xuyến nói trong day dứt: Lâu nay, việc lồng ghép các chương trình, dự án dành cho xã đặc biệt khó khăn các cấp, các ngành đều thấy và được đề cập nhiều nhưng vẫn không thiết kế được một cơ chế cụ thể. Ví như: Cùng lĩnh vực thuỷ lợi có nhiều chương trình do nhiều bộ, ngành đầu tư, nào là Uỷ ban Dân tộc, Bộ Nông nghiệp-Phát triển nông thôn, nào là vốn xây dựng cơ bản của tỉnh… Mỗi nguồn vốn theo một cơ chế quản lý riêng nên các công trình có quy mô nhỏ, năng lực tưới tiêu không cao, lại thiếu nguồn vốn để duy tu, bảo dưỡng nên nhanh xuống cấp, hư hỏng. Nếu các nguồn vốn đầu tư đó được lồng ghép trong một dự án, sẽ có công trình với quy mô và hiệu suất lớn hơn. Địa phương mong mỏi các nhà quản lý, hoạch định chính sách nghiên cứu, ban hành một cơ chế lồng ghép theo lĩnh vực để gia tăng hiệu quả đầu tư.

Một dẫn chứng nữa: Người trong độ tuổi lao động có nhu cầu được đào tạo nghề lớn nhưng Chương trình 135 quy định chỉ hỗ trợ cho nhóm từ 16-25 tuổi. Vậy đối tượng từ 26-30 tuổi thì giải quyết thế nào, trong khi đây lại là nhóm có nguyện vọng học nghề nhiều nhất? Mặt khác mức hỗ trợ quá thấp nên các Trung tâm dạy nghề không chiêu sinh được. Vì vậy, riêng tỉnh Điện Biên kết dư hơn 3 tỷ đồng của hợp phần đào tạo.

Quá trình tổ chức thực hiện các chính sách của địa phương do không xuất phát từ thực tiễn cơ sở cũng gây ra những tác hại tương tự như việc hoạch định chính sách không sát. Dẫn chứng là việc cấp máy cày trong hợp phần phát triển sản xuất của Chương trình 135. Hiện nay, ở xã Nậm Kè, một xã có thế mạnh trồng lúa của huyện Mường Nhé, Phòng Nông nghiệp huyện đầu tư 8 hộ/máy cày, công suất 8 mã lực. Do địa hình đồi núi dốc, diện tích các thửa ruộng hẹp, công suất máy nhỏ nên đành “đắp chiếu”, gây lãng phí. Xã đã kiến nghị lên huyện, nhưng vẫn chưa có hướng giải quyết.

Còn một bất cập đang phổ biến đó là ngân sách đảm bảo cho các chương trình, dự án quá ít dẫn đến quy mô công trình nhỏ bé, thời gian thực hiện kéo dài. ấy là chưa nói đến số lượng các chính sách, chương trình, dự án nhiều, dàn trải, chồng chéo. Quả thật với cán bộ địa phương, nhất là cán bộ cấp cơ sở  để nhớ hết tên, mục đích, đối tượng đầu tư, địa bàn thực hiện cũng là một thách thức.

Còn với Đề án Sắp xếp ổn định dân di cư tự do huyện Mường Nhé, giai đoạn 2008-2012 do tỉnh xây dựng, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 141/QĐ-TTg ngày 31/1/2008 đến thời điểm này mới bắt đầu thực hiện.

Mường Nhé với diện tích gần 250 nghìn ha, trên 93% là đất nông lâm nghiệp màu mỡ, độ che phủ rừng trên 53%, nước cho sản xuất và sinh hoạt thuận lợi. Mường Nhé có Khu bảo tồn thiên nhiên với những cánh rừng già nguyên sinh rộng hàng chục nghìn ha. 

Trước đây, khi dân cư thưa thớt, đất, rừng nhiều, người dân đến khai hoang lập nghiệp. Sau này, rừng được quy hoạch, có chủ, không còn đất hoang thì người dân di cư tự do đến Mường Nhé ngày càng nhiều. Để có đất ở, đất canh tác phải phá rừng đầu nguồn, kể cả Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái, theo đó là trật tự xã hội bị ảnh hưởng, các tệ nạn nghiện hút, buôn bán ma tuý… gia tăng, gây mâu thuẫn với người dân sở tại và bị kẻ xấu lợi dụng, kích động, chia rẽ.

Tình trạng di dân tự do làm cho đời sống của người dân thêm khó khăn, thiếu ổn định, không được tiếp cận và hưởng lợi từ các chính sách của Nhà nước, các dịch vụ xã hội như giáo dục, y tế đồng thời ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân sở tại,  phá vỡ kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của địa phương, tiềm ẩn nguy cơ làm mất ổn định chính trị xã hội, an ninh quốc phòng trên địa bàn Mường Nhé nói chung, khu vực biên giới nói riêng.

Để giải quyết cơ bản vấn đề trên, năm 2008, tỉnh Điện Biên đã xây dựng Đề án sắp xếp ổn định dân di cư tự do huyện Mường Nhé giai đoạn 2008-2012. Đề án được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 141/QĐ-TTg ngày 31/1/2008 với mục tiêu tổng quát là: Tập trung sắp xếp ổn định dân cư cho 17 bản, 694 hộ, 3.688 khẩu; ổn định tại chỗ 114 bản, 6.060 hộ, 36.072 khẩu thuộc huyện Mường Nhé; Thực hiện tuyên truyền giáo dục, vận động để nhân dân đến nơi ở mới thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; Tập trung xây dựng một số dự án thiết yếu, quan trọng ở một số địa điểm có điều kiện để từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, đồng thời ổn định đời sống lâu dài cho nhân dân; Kết hợp với các lực lượng vũ trang trên địa bàn để củng cố và xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững chắc, chú trọng nâng cao chất lượng hoạt động của các thành viên từ thôn, bản như: Các chi hội, đoàn thể, công an viên… tạo nên thế trận an ninh, quốc phòng toàn dân.

Tổng số vốn thực hiện Đề án khi được phê duyệt là gần 447 tỷ đồng. Đây là một chính sách dân tộc chuyên biệt để giải quyết cơ bản vấn đề di dân tự do cùng những hậu quả của di dân tự do vào địa bàn Mường Nhé.

Quyết định 141 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án sắp xếp ổn định dân di cư tự do huyện Mường Nhé giai đoạn 2008-2012 có hiệu lực từ ngày ký (31/1/2008). Đến nay, thời gian thực hiện đề án theo Quyết định 141 còn hơn 1 năm nữa là kết thúc. Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện Mường Nhé Lù Văn Thanh cho biết: Nay muốn thực hiện Đề án, số vốn phải đội lên 2-3 lần so với con số đã được phê duyệt vào năm 2008 bởi cơ sở để xây dựng đề án lúc đó đã khác xa so với thực tế hiện nay. Số bản tăng lên, số xã tăng lên, dân số cơ học tăng vọt, đi kèm với đó là các công trình kết cấu hạ tầng như điện, đường, trường, trạm, thuỷ lợi sẽ phải có sự điều chỉnh tăng theo, rồi tốc độ trượt giá…

Một đề án xuất phát từ thực tế, đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt có hiệu lực từ đầu năm 2008 với những mục tiêu cụ thể, thiết thực nếu được tổ chức thực hiện chặt chẽ, hiệu quả  chắc đã giải quyết được một cách cơ bản tình hình di dân tự do và hẳn sẽ ngăn loại được những bất ổn định trên địa bàn huyện như vừa qua. Và, từ kết quả sắp xếp, ổn định dân di cư tự do ở huyện Mường Nhé sẽ rút ra những bài học kinh nghiệm vô giá để những địa phương khác tham khảo.

Trong rất nhiều nhiệm vụ trọng đại cần được quan tâm giải quyết của đất nước và trong dòng chảy sôi động của cơ chế thị trường, cuốn hút mọi đối tượng vào hoạt động kinh tế thì việc phải làm để các cấp, các ngành, để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thấy được “vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc vừa là vấn đề chiến lược lâu dài, vừa là vấn đề cấp bách của cách mạng nước ta”; thấy sự ổn định, phát triển ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi trực tiếp chi phối, tác động đến sự ổn định về chính trị của đất nước cũng như sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội ở các địa phương; thấy thực trạng kinh tế-xã hội quá thấp kém cùng những bất ổn ở vùng dân tộc, miền núi-địa bàn căn cứ cách mạng, kháng chiến trước đây, vùng “phên dậu” của đất nước hiện nay là không thể chấp nhận, để từ đó có những giải pháp thật căn cơ vừa giải quyết kịp thời, hiệu quả những vấn đề bức thiết “đang nóng” hiện nay, vừa đảm bảo cho sự phát triển ổn định lâu dài.

Trên hết và trước hết, ở tầm vĩ mô, là đòi phải có một Chiến lược Phát triển nhanh, toàn diện, bền vững địa bàn dân tộc, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới đặc biệt khó khăn. Để từ chiến lược ấy được cụ thể hoá vào những chương trình, kế hoạch nhiều năm và xây dựng, ban hành những chính sách, chương trình, dự án thiết thực, phù hợp, đảm bảo tính cơ bản, toàn diện, vững chắc và đồng bộ của quá trình phát triển. Từ đó tránh được sự bị động, chồng chéo trong hoạch định chính sách.

Đầu tư phát triển vùng miền núi, dân tộc trong bối cảnh tiềm lực kinh tế đất nước chưa mạnh, nên không thể dàn trải mà phải lựa chọn những lĩnh vực trọng điểm, những vấn đề bức xúc nhất để tập trung nguồn lực giải quyết. Theo đó, đòi phải tiến hành rà soát các chính sách đã ban hành, nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung kịp thời. Đồng thời sớm xây dựng và ban hành khung hệ thống chính sách đối với khu vực dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2011-2020 phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội của vùng và địa phương, để cùng với Chiến lược phát triển, khung hệ thống chính sách là cơ sở để các bộ, ngành và địa phương xây dựng những chính sách đầu tư cụ thể theo ngành, lĩnh vực, tránh chồng chéo và để Uỷ ban Dân tộc thực hiện tốt  chức năng quản lý nhà nước đối với các chính sách thuộc lĩnh vực công tác dân tộc theo Nghị định số 05/NĐ-CP ngày 14/1/2011 của Chính phủ về công tác dân tộc.

Phát triển kinh tế-xã hội vùng miền núi, biên giới thật cần những chính sách, chương trình, dự án đặc thù, sát với thực tiễn. Khi đã xây dựng được những chính sách, chương trình, dự án như vậy phải tập trung nguồn lực đảm bảo. Trở lại với Mường Nhé, Quyết định 141/2008/QĐ-TTg ngày 31/1/2008 về sắp xếp, ổn định dân di cư tự do tại huyện Mường Nhé giai đoạn 2008-2012 là một chính sách chuyên biệt tiêu biểu. Chỉ còn hơn một năm nữa là kết thúc thời gian thực hiện. Trên thực tế, Quyết định 141 chưa được thực hiện. Do vậy đề nghị Chính phủ cho tiếp tục thực hiện Quyết định 141, theo đó là việc điều chỉnh mục tiêu và tăng ngân sách đảm bảo vì vấn đề di dân tự do là vấn đề xã hội, kinh tế lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định và phát triển của địa phương và đến nay tình hình di dân tự do diễn biến phức tạp, số dân di cư tự do tại Mường Nhé đã tăng nhiều lần.

Công tác định canh, định cư có tầm quan trọng đặc biệt, trực tiếp đảm bảo cho đồng bào an cư lạc nghiệp và để vùng dân tộc, miền núi ổn định và phát triển. Thực tế nhiều chục năm qua cho thấy đây là việc lớn và khó, dù đã được Đảng và Nhà nước quan tâm song quá trình thực hiện còn quá nhiều bất cập. Rất mong Trung ương Đảng, Chính phủ dành sự quan tâm xứng đáng cho công tác này.

Từ Mường Nhé cho thấy: Chính sách đầu tư cho phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn miền núi, dân tộc phải xuất phát từ yêu cầu phát triển và từ thực tế của địa phương, của vùng, miền. Có như vậy những chính sách, chương trình, dự án thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước  đối với đồng bào các dân tộc, với địa bàn dân tộc, miền núi mới hiện hữu trong cuộc sống của đồng bào-nhân tố quyết định củng cố niềm tin của đồng bào các dân tộc với Đảng, với chế độ./.

Nguyễn Phương Thảo

 

 

Bài 3: Những vấn đề đặt ra với hệ thống chính trị cơ sở ở Mường Nhé và vùng dân tộc, miền núi đặc biệt khó khăn

 

 

 

Bình luận

Bình luận

Nội dung của trường dữ liệu này được giữ kín và sẽ không được hiển thị công khai.
  • Các địa chỉ web và email sẽ tự động được chuyển sang dạng liên kết.
  • Các thẻ HTML được chấp nhận: <a> <em> <strong> <cite> <code> <ul> <ol> <li> <dl> <dt> <dd>
  • Tự động ngắt dòng và đoạn văn.

Thông tin thêm về các tùy chọn định dạng

CAPTCHA
Hãy nhập lại hình ảnh và số vào ô ở dưới
Image CAPTCHA