Hạng A Cháng

08:49 - Thứ Năm, 23/05/2019 Lượt xem: 1372 In bài viết
ĐBP - Bản Pờ Chồ có một bãi đất bằng nằm cạnh một khu rừng cấm. Ngày thường, bãi đất là nơi tụ tập của trẻ chăn trâu, là nơi thử sức vật nhau, chơi  trò chơi chọi gà bằng cỏ. Ngày hội thường là tháng giêng, tháng hai, cả làng tụ tập tại đây để tổ chức “Say sán”. Những hôm cúng rừng, nơi đây sửa soạn cho cái lễ: Nào là mổ lợn cắp nách, nào là đồ mì miến, làm bánh. Mọi công việc xong xuôi, gói ghém đặt trên chiếc mẹt làm lễ. Chiếc mẹt có đủ đồ ăn, thức uống và giấy xanh giấy đỏ. Cả làng cứ theo chỉ bảo của ông thầy cúng, thắp hương khấn vái xung quanh khu rừng thiêng.

Và cũng chính tại bãi đất bằng này đã se duyên cho bao cặp tình nhân. Thường thì vào ngày hội tháng giêng. Sau câu hát duyên, sau lời giới thiệu, họ ăn bánh cùng nhau, thổi khèn cùng nhau, hẹn ngày hội ngộ. Tình yêu giữa Cháng và Mỉ cũng bắt đầu từ cái bãi đất bằng này. 

Hạng A Cháng năm nay đã ngoài hai mươi ba tuổi. Cái tuổi mà con trai Mông nào cũng đã cưới vợ, tậu trâu. Tuần trước, Cháng về Bảo Yên, do quen biết, Cháng mua được con trâu như ý.

Cháng ngực nở như cung ruộng bậc thang. Hai vai dày. Bắp chân bắp tay cuồn cuộn như sợi mây rừng. Bố Cháng làm nghề rèn. Mẹ làm nghề thêu vải. Cháng được thừa hưởng nước da, sức vóc của bố và tiếng nói của mẹ. Lớn lên, Cháng chăn trâu cùng bạn bè, cùng tắm nước suối, cùng ăn ngô nướng và bây giờ Cháng đang tập cày bừa.

Tới bờ, Cháng cho trâu ăn thêm cỏ. Giống cỏ voi to bản, trâu ăn ngọt ngào nghe như người đang nhai mía. Giống cỏ voi gia đình mới trồng được một năm mà cây đã cao ngang tầm ngực. Bố Cháng thường bảo: Từ ngày có cỏ voi, đỡ được bao công lênh, chẳng phải đi xa, trâu thả sức mà ăn mà lớn.

Vạt nương nằm giữa thung lũng ma. Chênh chếch phía sườn tây, giáp với xã Tả Văn Chư. Ngày trước, hai thôn thuộc hai xã thường to tiếng với nhau. Tiếng to, tiếng nhỏ cũng bởi không ngã ngũ ranh giới. Tranh chấp đến khi xã phân chia cọc mốc, phân chia để làm bìa đỏ, từ đó mới dứt mạch rõ ràng. Và nhà Cháng cũng được chia thêm phần đất từ cái ngày đó.

Cháng lựa lưỡi cày. Như người phụ nữ lựa đường kim vắt sổ. Ðất cứng, nhưng lưỡi cày sắc. Cày sâu mà vướng đá là gãy. Chú trâu chân bước, nhởn nhơ nghiêng nghiêng cái đầu nhai nhai nuốt nuốt. Bọt ứ tràn đầy. Mảnh nương này có chín bậc. Mỗi bậc trồng được hai cân ngô. Ngô Bắc Hà đã là thương hiệu. Ngô đã trở thành hàng hóa đi khắp nơi. Cung ruộng bậc thang hình lưỡi liềm có đá chìm đá nổi. Ðến đoạn ngoặt lại phải vác, phải nhấc cày. Chú trâu vẫn thản nhiên như không hay biết điều gì. Nó thản nhiên quay theo cái ngoắt tay, vắt dây của chủ. Hòn đá xanh xám, hòn đá màu trăng trắng lập lờ như bày binh bố trận thử sức lợi hại của lưỡi cày. Vì đã quá quen với ruộng nương, vì đã đi cày từ năm mười ba tuổi, nên Cháng quen việc quen nương. Những chỗ nông sâu Cháng thuộc như thuộc trong lòng bàn tay. Lưỡi cày cứ phăm phăm đi đi lại lại. Từng thớ đất được lật ngược. Ngày trước, không có trâu, cái thời mà không có tổ đổi công như bây giờ, nhà Cháng nghèo lắm. Cháng phải đem sức ra mà chạy đua với ruộng nương, chạy đua với mùa màng. Lưỡi cuốc Bản Phố bập xuống. Một nhát, hai nhát tưng tưng. Mảnh nương này đã hút hết nước trong lòng bàn tay Hạng A Cháng. Mùa màng đã hút hết màu xanh trên vai áo Cháng. Cuốc từ sáng tinh mơ, cuốc đến chập choạng tối. Cổ tay, bắp chân, bả vai mỏi nhừ. Năm ấy nhà Cháng được mùa, Cháng sắm được năm đồng bạc trắng. Năm ấy ông trời thương cho Cháng, thường cho chàng trai chưa có vợ mà tài sản chẳng có gì ngoài chú ngựa còm. Năm ấy, nhà Cháng nấu rượu, có ngô đầy sàn, gà lợn đầy vườn, thế là Cháng bàn với mẹ xin cưới Seo Mỉ.

Vừa đúng hai mươi tuổi, Cháng lấy vợ. Bố mẹ Cháng nuôi được sáu con lợn đực to tướng. Ước chừng mỗi con nặng bảy mươi cân. Hai con bán đi mua bạc trắng, sắm sửa váy cưới, còn hai con mổ để đưa sang nhà gái. Còn lại để làm cưới tại nhà.

Năm ấy, tháng ấy, Cháng được mọi người chào hỏi cởi mở. Thật là mở mày mở mặt với bàn dân thiên hạ. Họ Hạng mở mày mở mặt với các dòng họ khác.

Mỉ là vợ của Cháng. Mỉ hay cười nhưng ít nói. Mỉ khéo tay thêu túi. Mỗi phiên chợ gia đình cũng kiếm được tiền bạc trăm nhờ vào đôi bàn tay khéo léo của Mỉ. Những lúc rảnh rỗi, Mỉ đưa máy khâu ra sân may. Ðường chỉ chạy qua chân vịt đi đi lại lại. Ðường chỉ làm duyên cho dây bao, cứng cáp thêm cho dây bao.

Cái ngày ấy, Mỉ mê Cháng. Mỉ ngẩn ngơ nghe tiếng khèn Cháng thổi. Tiếng khèn đậu bên khung cửa sổ. Tiếng khèn đậu bên gối Mỉ nức nở. Ai bảo Mỉ nghe, ai bảo Mỉ thức mà mê say. Có lúc, Mỉ muốn trùm cái chăn lên che đầu, tiếng khèn vẫn nức nở, mềm mại luồn sâu trong chăn và gối, dìu dặt gọi bạn. Thế là Mỉ đi trong đêm cùng Cháng. Mỉ qua đám bãi đất bằng, Cháng cầm tay đỡ Mỉ ngồi bên tảng đá. Ánh trăng mười sáu hòa quyện cùng màn sương mùa xuân. Ánh trăng muốn tâm sự cùng Cháng, cùng Mỉ.

Cho đến bây giờ đã được ba năm. Ba năm làm nương, ba năm nuôi lợn nuôi gà. Ba năm được bố mẹ Cháng  chia cho khoảng đồi, triền thung. Cháng trở thành người khá giả. Cháng  được bản làng nhắc đến nhiều lần. Dân làng nhắc đến nhiều nhất là cái năm Cháng tham gia đua ngựa. Chú ngựa có cái bờm dài hung hung. Chú ngựa có cái chân cao, lưng dài, đuôi dài. Con ngựa ấy Cháng mua bên Sín Mần Hà Giang. Con ngựa ấy Cháng chọn trong ba chợ mới  gặp. Chú ngựa đã trở thành niềm tự hào của bản Pờ Chồ. Năm ấy, cả làng mổ trâu ăn mừng. Là năm đầu tiên bản Pờ Chồ đạt giải cao. Có nằm mơ bản Lử Chồ bên cạnh cũng không có được.

Cháng còn nhớ, cái bãi đất  bằng kia, cái ngày đó nghi ngút khói. Sáu cái chảo xếp theo hình chữ điền. Bàn gỗ, ghế gỗ xếp theo hình chữ chi chữ vương. Mọi người lụi hụi nấu nướng, xì xụp mời chào thắng cố. Ðám con trai vui nhất, hể hả. Rượu rót đầy tràn bát, lời nói ngu ngơ. Họ ngửa đầu ra đằng sau, cúi đầu đằng trước mà uống. Thỉnh thoảng lại hát vài câu dân ca. Ðàn bà con gái hết chặt lại thổi thổi múc múc. Ai bảo Cháng thắng. Ai bảo Cháng hứa với bản làng là nếu được giải nhất thì đãi.

Con đường vào bản. Con đường đá dốc trải dài chân ngựa. Bên cạnh con đường, cạnh một khóm tre hóp có một bễ lò rèn đơn sơ mái lợp sắt tây. Anh thanh niên tì ngực vào cần đẩy gió. Cần làm bằng sắt quấn vải và lông gà, ống thổi làm bằng gỗ thông tròn dài. Miếng sắt đỏ được  đặt trên chiếc đe con rùa. Anh thanh niên đầu quấn khăn, cởi trần quai búa. Tiếng búa chắc nịch. Mồ hôi nhễ nhại y như vận động viên thể hình đang luyện công. Cứ thế, cứ thế tiếng quai búa đều đều, ánh sáng bay bay, quay quay. Cháng vác bừa, theo sau là Seo Mỉ.

Ðến bãi bằng, cả hai vợ chồng ngồi nghỉ. Nhìn từ trên cao xuống lưng chừng dốc, bên kia là nương nhà Cháng. Từng cung ruộng bậc thang leo dần theo độ cao của dốc. Nước về cung ruộng trắng xóa, trông như chiếc gương cong cong hình lưỡi liềm.

Gió từ Thồ Tả Hồ thổi thốc lên. Gió leo qua triền thung, vượt qua bãi cỏ voi. Nhìn từ trên cao, ánh nắng mềm mại quét đều xanh xanh cùng cây lá. Một cảm giác no ấm đến với Cháng. Cháng đứng dậy rảo bước. Tiếng đàn môi dìu dặt trong ánh nắng buổi chiều.

Truyện ngắn của Ðỗ Văn Dinh
Bình luận