|
| Cầu Thê Húc xưa. Ảnh: Internet |
ĐBP - Ngày 10/10/2008, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thịsố 30/2008/CT-TTg về việc kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. Theo đó, Kinh đô Thăng Long xưa - Thủ đô Hà Nội ngày nay là nơi địa linh, nhân kiệt với bề dày hàng nghìn năm lịch sử, là nơi tinh hoa của dân tộc hội tụ, lan tỏa trên mọi miền đất nước, phát triển thành biểu tượng của nền văn hiến Việt Nam...
Mùa thu năm Canh Tuất (1010), vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La, đổi tên kinh thành là Thăng Long (nay là Hà Nội). Với bề dày ngàn năm, Thăng Long - Hà Nội là nơi địa linh nhân kiệt, hội tụ tinh hoa văn hoá dân tộc, tiếp thu chọn lọc tinh hoa văn hoá thế giới, hình thành văn hiến Thăng Long - Hà Nội, toả chiếu mọi miền Tổ quốc. Năm 2010, Thủ đô Hà Nội tròn 1000 năm tuổi. Đây là một sự kiện trọng đại trong lịch sử nước nhà. Thời Hùng Vương, kinh đô đặt ở Văn Lang, vùng đất Thăng Long - Hà Nội lúc đó là một làng quê. Khoảng thế kỷ III trước Công nguyên, Thục Phán (An Dương Vương) thay thế vua Hùng dựng nước Âu Lạc, dời đô xuống miền Cổ Loa. Kinh đô Cổ Loa đi vào lịch sử với tư cách là kinh thành, thị thành, quân thành, trung tâm đầu não chính trị, kinh tế của nước Âu Lạc. Năm 179 trước Công nguyên, nước Âu Lạc bị Triệu Đà thôn tính. Kể từ đó, Âu lạc rơi vào ách thống trị của các triều đại phong kiến phương Bắc kéo dài ngàn năm, vùng đất Thăng Long - Hà Nội trở thành đại bản doanh của chính quyền đô hộ. Nửa sau thế kỷ VIII, Kinh lược sứ nhà Đường là Trương Bá Nghi tổ chức đắp La Thành. Năm 865 - 866, Tiết độ sứ Cao Biền cho đắp đê thành Đại La. Đặc trưng thành Đại La thời Bắc thuộc là quan, quân, dân chúng ở trong một vòng đê ngoài, mang tính chất quân sự, thiếu quy mô sinh hoạt kinh tế, văn hoá của các tầng lớp nhân dân. Trong hơn mười thế kỷ Bắc thuộc, nhân dân Thăng Long - Hà Nội luôn bất khuất, quật cường khởi nghĩa chống quân xâm lược. Năm 40, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa ở Hát Môn đập tan ách đô hộ của nhà Hán, xây dựng kinh đô ở Mê Linh, khôi phục nhà nước độc lập. Năm 542 - 544, Lý Bí hào trưởng Thái Bình (vùng Sơn Tây cũ), dấy binh đánh đuổi giặc Lương, lên ngôi hoàng đế, chọn đất dựng chùa “Khai Quốc, đóng đô ở vùng đất thuộc Thăng Long - Hà Nội (ngày nay), đặt quốc hiệu của nước là Vạn Xuân. Khoảng năm 766 - 779, Phùng Hưng thủ lĩnh vùng Đường Lâm khởi binh kéo đại quân từ vùng núi Ba Vì về bao vây thành Đại La, lật đổ ách đô hộ nhà Đường, xây dựng chính quyền độc lập tới năm 791. Năm 905, Khúc Thừa Dụ, hào trưởng đất Hồng Châu nổi dậy chiếm giữ phủ thành Đại La, tự lập làm Tiết độ sứ, xoá bỏ chính quyền đô hộ. Năm 931, hào trưởng Dương Đình Nghệ tiến quân từ ái Châu (Thanh Hoá) ra Bắc, đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi thành Đại La, khôi phục nền tự chủ từ năm 931 đến năm 937. Thời tiền Thăng Long các bậc đế vương của nước ta, như: An Dương Vương, Hai Bà Trưng, Lý Nam Đế, Ngô Quyền đã chọn đất thuộc vùng Thăng Long - Hà Nội để đóng đô, xây dựng nền độc lập. Năm 1010, ngay sau khi lên ngôi, Lý Công Uẩn quyết định dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra thành Đại La, đổi tên thành Đại La là thành Thăng Long. Chọn Thăng Long làm kinh đô, Lý Công Uẩn đã đứng trên chủ thuyết phát triển và cái nhìn toàn cục của quốc gia để chọn lấy một dải đất đắc địa bậc nhất của nước Đại Cồ Việt xây dựng trung tâm đầu não về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, thể hiện cao độ ý chí độc lập, tự cường dân tộc. Thời Lý kinh đô Thăng Long được xây dựng theo kiến trúc “Tam trùng” thành quách (3 vòng thành lồng nhau). Vòng thành ngoài gọi là thành Đại La. Vòng thành giữa gọi là Hoàng Thành, nơi có các cung điện hoàng gia và nơi thiết triều của vua. Kinh thành được bao bọc bởi một toà thành bằng đất phát triển từ đê của 3 con sông: sông Hồng ở phía Đông, sông Tô ở phía Bắc và phía Tây, sông Kim Ngưu ở phía Nam. Nét nổi bật của kinh thành Thăng Long thời Lý là tận dụng tối đa những điều kiện tự nhiên và tạo ra sự hài hoà với kiến trúc nhân tạo. Dấu ấn Thăng Long thời kỳ này còn được lưu lại ở nhiều công trình kiến trúc đặc sắc, như: đền Đồng Cổ xây dựng năm 1028, chùa Diên Hựu (chùa Một Cột -1049), tháp Báo Thiên (1057). Trong công trình “Thăng Long tứ trấn”, nhà Lý dã xây dựng hoàn chỉnh ba trấn là: Trấn Vũ quán, đền Bạch Mã, đền Voi Phục... Năm 1070, nhà Lý lập Văn Miếu; năm 1075, mở khoa thi Nho học đầu tiên; năm 1076, tuyển những văn quan có học vào tu nghiệp ở Quốc Tử Giám. Trong công cuộc phục hưng nền độc lập nhà Lý đã đặt viên gạch đầu tiên để xây dựng nền tảng sự nghiệp văn hoá, giáo dục, đặt nền tảng cho nền giáo dục đại học và nhiều ngành khoa học của nước nhà, mở ra kỷ nguyên văn minh Đại Việt. Vào giai đoạn thịnh đạt của nhà Lý, kinh đô Thăng Long đã thực sự trở thành một trung tâm chính trị - kinh tế - văn hoá lớn nhất và tiêu biểu cho cả nước. Kinh đô Thăng Long xưa - Thủ đô Hà Nội ngày nay là nơi với bề dày hàng nghìn năm lịch sử, nơi tinh hoa của dân tộc hội tụ, lan tỏa trên mọi miền đất nước, phát triển thành biểu tượng của nền văn hiến Việt Nam. Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội là một sự kiện trọng đại biểu thị tình cảm và đạo lý uống nước nhớ nguồn đối với ông cha ta đã có công dựng nước và giữ nước; để giáo dục truyền thống lịch sử và cách mạng của dân tộc, động viên toàn Đảng, toàn dân và toàn quân phấn đấu xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
(Biên soạn)
Hoàng Dũng
|