|
| Mùa quả ngọt. |
ĐBP - Bước vào tháng chạp, cánh đồng Mường Thanh mướt một màu xanh biêng biếc của mạ non. Ngắm nhìn những làn sóng lúa nhấp nhô, cò bay thẳng cánh, ít người có thể biết rằng đó là thành quả của công cuộc cải tạo cánh đồng Mường Thanh (bao gồm việc dồn dân, san lấp mặt bằng và xây dựng công trình Đại thủy nông Nậm Rốm) được thực hiện trong thập kỷ 60 của thế kỷ trước. Năm 2009, trên cánh đồng “Nhất Thanh…” đã làm thêm một cuộc cách mạng, mở ra một bước ngoặt quyết định, tạo tiền đề cho sản xuất nông nghiệp Điện Biên giành nhiều thành tựu: Trên 3.500ha ruộng 2 vụ trên cánh đồng này đã từng bước được cơ giới hóa...
Những gam màu sáng Những ngày tháng 11, trên cánh đồng Mường Thanh rộn tiếng máy nông nghiệp. Lần đầu tiên, nông dân một số xã vùng lòng chảo huyện Điện Biên mà đi đầu là nông dân xã Sam Mứn đầu tư mua máy gặt đập liên hợp đưa vào phục vụ sản xuất và làm dịch vụ. Theo nhận định của bà Trần Thị Tuyết, Trưởng phòng Nông nghiệp huyện Điện Biên: “Nghị quyết TW 7 về nông nghiệp – nông dân – nông thôn sẽ là động lực thúc đẩy cuộc cách mạng nông nghiệp ở huyện Điện Biên nói riêng và trên địa bàn toàn tỉnh”. Trong đó, với vùng lòng chảo Mường Thanh, cơ giới hóa sẽ được nông dân lựa chọn, ưu tiên thực hiện để sản xuất nông nghiệp tiên tiến và bền vững”. Đối với huyện Điện Biên, bước đầu đưa cơ giới hoá vào nông nghiệp đã giúp nông dân tăng năng suất, chất lượng nông sản (do được thu hoạch, bảo quản kịp thời) và giảm giá thành sản xuất, góp phần tăng thu nhập trên cùng đơn vị diện tích. Thêm vào đó, việc cơ giới hoá nông nghiệp cũng góp phần đảm bảo lịch thời vụ, nông dân có thời gian chuẩn bị cho sản xuất vụ 3. Nhớ lại thời điểm năm 2002, Công ty TNHH Cơ khí nông nghiệp và xây dựng Điện Biên trình diễn và đưa vào vận hành máy gặt lúa cải tiến đã được nông dân đón nhận hồ hởi song chưa thể đưa vào sử dụng đại trà do ở thời điểm đó, cơ giới hoá mới chỉ được áp dụng trong các khâu: làm đất, tuốt lúa, chế biến. Các khâu gieo, chăm sóc… vẫn làm thủ công dẫn đến nhu cầu sử dụng máy gặt cải tiến chưa cao. Nay nhờ các khâu: làm đất, tưới tiêu, thu hoạch đã được cơ giới hóa đồng bộ, nên bức tranh nông nghiệp ở huyện trọng điểm sản xuất lương thực của tỉnh đã có những gam màu sáng. Những tín hiệu vui Từ nhiều năm nay, cánh đồng Mường Thanh đã trở thành vùng trọng điểm sản xuất lúa gạo của tỉnh. Gạo sản xuất từ cánh đồng Mường Thanh đã được xuất bán ra thị trường ngoài tỉnh và sang cả Đông âu… Thời gian gần đây, một số doanh nghiệp trong nước muốn gặp gỡ, tiếp xúc để tìm hiểu, trực tiếp ký kết thu mua, chế biến và xây dựng vùng sản xuất lúa gạo tập trung trên cánh đồng Mường Thanh. Tuy vậy, vẫn phải thừa nhận rằng giá trị nông sản còn thấp và sức cạnh tranh yếu. Tại các diễn đàn xúc tiến đầu tư, nhất là tại hội thảo “Nông sản Điện Biên trong tiến trình hội nhập” được tổ chức cách nay gần 3 năm, các nhà khoa học và những người làm công tác quản lý ngành Nông nghiệp tỉnh đã chỉ ra: Đó là tình trạng sản xuất tự phát và manh mún; liên kết “bốn nhà” chưa bền chặt; cơ giới hoá trong nông nghiệp mới ở mức độ giới hạn… Để tạo sự bứt phá, ngành Nông nghiệp - PTNT tỉnh đã có bước chuẩn bị gần 30 năm. Đầu tiên là việc du nhập những giống lúa có giá trị kinh tế cao như: bắc thơm số 7 và hương thơm số 1 (thường gọi là tám thơm và tẻ thơm) đưa vào sản xuất đại trà. Tiếp đến là cải tạo cánh đồng, nâng cao hiệu quả sử dụng đất; đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất… Theo hồi ức của ông Hà Duy Ngạn, nguyên Trưởng phòng Nông nghiệp - Địa chính huyện Điện Biên, ở thời điểm những năm 60 của thế kỷ trước, thung lũng Mường Thanh có diện tích trên 13 nghìn héc ta với chiều dài khoảng 26km, rộng 6km song ruộng nước chỉ chiếm trên 4.000ha (chủ yếu là ruộng 1 vụ), còn lại là bãi màu và đất hoang. Khi đó, nông dân vùng lòng chảo Mường Thanh chỉ chờ mưa xuống để cấy 1 vụ lúa. Muốn cấy 2 vụ lúa thì phải có đủ nước. Muốn như vậy phải xây dựng công trình thủy nông gồm đập, kênh Nậm Rốm và hồ chứa nước vừa để phát huy khả năng của sông Nậm Rốm, vừa giữ nước từ trên núi đổ xuống, coi như “của để dành”. Từ ý tưởng đó, công trình Đại thuỷ nông Nậm Rốm được xây dựng từ năm 1962, hoàn thành vào cuối năm 1968 với hệ thống kênh chính và 2 nhánh kênh tả, hữu như hai cánh tay vươn từ bắc đến nam, ôm lấy đồng ruộng trong lòng chảo đã góp phần đưa năng suất, sản lượng lúa ở cánh đồng Mường Thanh tăng. Cùng với việc xây dựng công trình Đại thủy nông Nậm Rốm, việc di dãn dân, tập trung san lấp lấy mặt bằng sản xuất và cùng cơ quan chuyên môn xây dựng bản đồ nông hóa đã góp phần làm nên diện mạo cánh đồng Mường Thanh “thẳng cánh cò bay”, như hiện nay. Diện mạo (như nhận định của ông Hà Duy Ngạn) tạo điều kiện để việc cơ giới hóa sản xuất và tưới tiêu thuận lợi, góp phần tăng năng suất, sản lượng lương thực gấp 5, 10 lần so với trước đây. Không chỉ có lúa chất lượng cao, trên cánh đồng Mường Thanh giờ đây có sự “góp mặt” của nhiều chủng loại cây, ví như cây cam ở bản Lếch Cang, xã Thanh Chăn, huyện Điện Biên; vùng chuyên canh rau, hoa ở “5 Thanh” (Thanh Hưng, Thanh Luông, Thanh Yên…). Tại các xã vùng lòng chảo này, đã xuất hiện nhiều mô hình nông dân phát triển kinh tế đem lại hiệu quả.
 Máy gặt, đạp liên hợp thu hoạch lúa trên cánh đồng Mường Thanh.
Vụ đông xuân 2009, những con “trâu sắt” hối hả hoạt động trên cánh đồng Mường Thanh thay thế dần hình ảnh “con trâu đi trước, cái cày đi sau” đang phát đi tín hiệu của nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa theo hướng hiện đại.
Giáng Hương
|